Cách đối lập này quá đơn giản
Động lực và kỷ luật thường được xem như hai phẩm chất cạnh tranh: một là cảm xúc, một là bài kiểm tra tính cách. Cách nhìn này quá hẹp. Động lực có thể khiến một việc đáng để chọn, còn kỷ luật có thể bảo vệ lựa chọn khi cảm xúc đổi thay; không điều nào xóa được mệt mỏi hay điều kiện bất khả thi.
Động lực có nhiều dạng
Nghiên cứu về tự quyết phân biệt nhiều lý do hành động, từ áp lực và phần thưởng đến những giá trị ta thật sự xem là của mình. Hãy hỏi điều gì quan trọng ở đây và bạn thực sự có thể chọn gì. Tự chủ, năng lực và sự kết nối có thể khiến bước tiếp theo bền vững hơn.
Kỷ luật thường là bối cảnh
Điều trông giống kỷ luật thường là một bối cảnh đã chuẩn bị: cuốn sách mở sẵn, một thời điểm chuyển tiếp lặp lại, một lựa chọn mặc định nhỏ hoặc kế hoạch được viết trước khi bị xao nhãng. Thói quen dễ hình thành hơn khi cùng tín hiệu và phản ứng lặp lại trong môi trường ổn định.
Làm nhỏ hành động đầu tiên
Thu nhỏ hành động đầu tiên đến mức vẫn nhìn thấy được trong một ngày ít năng lượng. Mở tệp, viết tiêu đề, đi giày hoặc đọc trang đầu. Nếu việc đó vẫn bất khả thi, có thể bạn cần nghỉ ngơi, trợ giúp hoặc một ranh giới khác thay vì thêm áp lực.
Viết tín hiệu trước tâm trạng
Viết kế hoạch nếu–thì: Nếu uống xong cà phê và ngồi vào bàn, tôi sẽ làm câu đầu tiên trong năm phút. Ý định thực hiện nối một tình huống dễ nhận biết với phản ứng đã chọn; nó có thể hỗ trợ mục tiêu nhưng không phải lời bảo đảm.
Một kế hoạch yên tĩnh cho ngày mai
Cho ngày mai một tín hiệu, một hành động và một câu hỏi kiểm tra. Khi tín hiệu đến, một câu trích dẫn RiseHush có nguồn rõ ràng có thể giúp; hãy đổi nó thành một bước rồi rời ứng dụng. Sau một tuần, hãy sửa bối cảnh thay vì trách tính cách của mình.
Động lực hay kỷ luật quan trọng hơn?
Không điều nào là câu trả lời đầy đủ. Động lực có thể nối hành động với giá trị, còn thói quen và bối cảnh chuẩn bị giúp giữ lựa chọn khi cảm xúc thay đổi. Hãy bắt đầu bằng một hành động nhỏ và thật.
Làm sao bắt đầu khi tôi không có động lực?
Chọn một hành động nhìn thấy được trong khoảng năm phút, gắn nó với tín hiệu vốn đã xảy ra và bỏ đi một trở ngại. Nếu có bệnh, nguy hiểm hoặc gánh nặng bất khả thi, hãy tìm hỗ trợ hoặc đổi điều kiện.
Thói quen có thể thay thế kỷ luật không?
Thói quen giảm các quyết định lặp lại nhưng không thay thế phán đoán hay hoàn cảnh thay đổi. Một tín hiệu ổn định, hành động khả thi và lần xem lại hằng tuần hữu ích hơn điểm số đạo đức.
Kế hoạch nếu–thì có bảo đảm hành động không?
Không. Nó có thể giúp nhận ra và bắt đầu phản ứng đã chọn dễ hơn, nhưng tín hiệu, hành động, mục tiêu và hoàn cảnh vẫn quan trọng. Hãy xem kế hoạch là thử nghiệm có thể thiết kế lại.
- Deci, E. L., & Ryan, R. M. (2000). The “what” and “why” of goal pursuits: Human needs and the self-determination of behavior. Psychological Inquiry, 11(4), 227–268.
- Wood, W., Quinn, J. M., & Kashy, D. A. (2002). Habits in everyday life: Thought, emotion, and action. Journal of Personality and Social Psychology, 83(6), 1281–1297.
- Lally, P., van Jaarsveld, C. H. M., Potts, H. W. W., & Wardle, J. (2010). How are habits formed: Modelling habit formation in the real world. European Journal of Social Psychology, 40(6), 998–1009.
- Gollwitzer, P. M., & Sheeran, P. (2006). Implementation intentions and goal achievement: A meta-analysis of effects and processes. Advances in Experimental Social Psychology, 38, 69–119.
- Harkin, B., Webb, T. L., Chang, B. P. I., et al. (2016). Does monitoring goal progress promote goal attainment? A meta-analysis of the experimental evidence. Psychological Bulletin, 142(2), 198–229.
